Doctor's Search

Bệnh cảm lạnh ở trẻ em – Những điều cần biết

22/04/2017

BỆNH CẢM LẠNH (VIÊM MŨI HỌNG CẤP)

1.Đại cương:

• Bệnh cảm lạnh (common cold) (hay còn được gọi viêm mũi họng cấp – acute nasopharyngitis) là một bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính, tự khỏi (self-limiting) do virus với triệu chứng nổi bật là sổ mũi và nghẹt mũi. Các triệu chứng toàn thân như đau đầu, đau cơ, và sốt có thể nhẹ hoặc không có. Bệnh có thể do nhiều họ virus; thường gặp nhất là trên 100 serotypes của rhinoviruses. Cảm lạnh thường chỉ viêm mũi nhiễm khuẩn (infectious rhinitis) nhưng cũng có thể gồm tổn thương tự khỏi của niêm mạc xoang và được gọi đúng hơn là viêm mũi xoang (rhinosinusitis) [3].

• Bệnh cảm lạnh là bệnh thường gặp nhất ở người. Ở Hoa Kì, ước tính hàng năm có khoảng 25 triệu người khám do NKHHT không biến chứng. Khoảng 30% cần kê đơn kháng sinh. Nhận thức không đúng rằng cảm lạnh là do vi khuẩn và kháng sinh cải thiện số lần khám và cần kháng sinh. Ở trẻ nhũ nhi và trẻ em hay bệnh và có triệu chứng kéo dài hơn người lớn. Cảm lạnh gây khoảng 22 triệu ngày nghỉ học và 20 triệu ngày nghỉ làm, gồm cả thời gian của cha mẹ chăm sóc trẻ ốm [1].

2. Nguyên nhân:

• Các triệu chứng của cảm lạnh có thể do nhiều loại virus khác nhau. Rhinoviruses bao gồm hơn 100 serotypes, chiếm đến 50% nguyên nhân VMH ở trẻ em và người lớn. Các nguyên nhân khác ở trẻ tiền học đường gồm virus hợp bào hô hấp (Respiratory syncytial virus – RSV), influenza viruses, parainfluenza viruses, và adenoviruses (Bảng ). Cảm lạnh cũng có thể do nonpolio enteroviruses (echoviruses và coxsackieviruses), coronaviruses, và human metapneumovirus [1],[3]. Đôi khi một số vi khuẩn khác gây hội chứng có thể trùng lắp với cảm lạnh như Mycoplasma pneumoniae, Bordetella pertussis, Streptococcus pyogenes, Coccidiodes immitis, Histoplasma capsulatum, Chlamydia psittaci, và Coxiella burnetii [4].

• Đáp ứng miễn dịch: Rhinoviruses, adenoviruses, influenza viruses, và enteroviruses gây miễn dịch kéo dài, nhưng miễn dịch không ngăn các đợt cảm lạnh lần sau vì có rất nhiều serotypes. RSV, parainfluenza viruses, và coronaviruses không gây miễn dịch lâu dài. Tái nhiễm có thể xảy ra, nhưng nhiễm lần sau với cùng tác nhân thì thường nhẹ hơn và ngắn hơn [1].

3. Dịch tễ học:

• Tỉ lệ mắc: Trẻ em có trung bình 6-8 đợt cảm lạnh mỗi năm, nhưng 10-15% trẻ có ít nhất 12 đợt nhiễm mỗi năm. Tỉ lệ mắc bệnh giảm dần theo tuổi, khoảng 2-3 đợt mỗi năm ở tuổi trưởng thành. Tỉ lệ nhiễm chủ yếu do phơi nhiễm với virus. Trẻ dưới 1 tuổi ở nhà trẻ có 50% mắc cảm lạnh hơn so với trẻ chăm sóc tại nhà. Thiếu mannosebinding lectin với suy giảm miễn dịch bẩm sinh có thể liên quan với tăng tỉ lệ cảm lạnh ở trẻ em [3].

• Mùa: Bệnh cảm xảy ra quanh năm, nhưng tỉ lệ cao nhất vào đầu mùa thu đến cuối mùa xuân, phản ánh tỉ lệ lưu hành theo mùa của virus liên quan các triệu chứng cảm lạnh. Ở phía Bắc bán cầu, tỉ lệ nhiễm rhinovirus cao nhất vào đầu mùa thu (tháng 8-10) và cuối mùa xuân (tháng 4-5) [3]. Nhiễm parainfluenza viruses thường cao nhất vào cuối thu và cuối xuân. Tỉ lệ mắc cao nhất giữa tháng 12 và tháng 4 đối với RSV, influenza viruses, human metapneumoviruses, và coronaviruses [3]. Nhiễm adenovirus liên tục tiếp diễn ở tỉ lệ thấp suốt mùa lạnh. Enteroviruses thường gây bệnh nhất vào mùa hè, nhưng có thể phát hiện quanh năm [1],[3].

• Lây truyền: Virus có thể gây bệnh bằng 3 cơ chế [1],[3]:

– Tiếp xúc tay trực tiếp (hand contact): Tự nhiễm trên chính niêm mạc mũi hay kết mạc sau khi tiếp xúc một người hoặc vật đã bị nhiễm virus.

– Hít các aerosols phân tử nhỏ lây truyền trong không khí khi ho (droplet transmission).

– Sự lắng đọng các aerosols phần tử lớn bắn ra khi hắt hơi và bám trên niêm mạc mắt hoặc mũi (tiếp xúc gần với người nhiễm).

Mặc dù các tác nhân cảm có thể lây truyền theo bất kỳ cơ chế nào nhưng một số đường dường như hiệu quả hơn đối với một số virus đặc biệt. Nghiên cứu rhinoviruses và RSV cho thấy tiếp xúc trực tiếp là cơ chế lây truyền hiệu quả mặc dù lây truyền bởi các aerosols phân tử lớn cũng có thể xảy ra. Ngược lại, influenza viruses và coronaviruses lây truyền hiệu quả nhất qua các aerosols phân tử nhỏ [3].

Phương tiện thành công nhất của lan truyền virus chủ yếu là nhiễm trùng hô hấp trên, như rhinoviruses, là sự lây truyền các chất tiết nhiễm từ bàn tay và ngón tay bị nhiễm sang màng niêm mạc mũi hoặc mắt của người nhạy cảm. Nguy cơ lan truyền người – người phụ thuộc nhiều vào thời gian, khoảng cách tiếp xúc và số lượng virus bệnh nhân nhiễm [1].

• Thời gian nhiễm: Tốc độ lan truyền virus cao nhất vào ngày thứ 3 sau khi nhiễm; điều này trùng với đỉnh của triệu chứng. Trong các nghiên cứu thực nghiệm, các nồng độ virus trong nước rửa mũi đã trở lại gần giá trị cơ bản 5 ngày sau khi nhiễm. Mức phát tán virus thấp có thể kéo dài đến 2 tuần [1],[3].

• Thời gian ủ bệnh: từ lúc tiếp xúc với vật nhiễm đến khi khởi phát triệu chứng đối với virus cảm là 24-72 giờ [1].

4. Sinh lý bệnh

• Virus hô hấp tiến triển nhiều cơ chế khác nhau để tránh phòng vệ của vật chủ. Nhiễm rhinoviruses và adenoviruses dẫn đến phát triển serotype miễn dịch bảo vệ đặc hiệu. Nhiễm lặp lại các tác nhân này xảy ra do có một lượng lớn các serotypes khác nhau của mỗi virus. Influenza viruses có khả năng thay đổi kháng nguyên trình diện trên bề mặt của virus và vì vậy đáp ứng như thể nhiều loại serotypes khác nhau. Có 4 types của parainfluenza viruses và 2 antigenic subgroups của RSV. Ngoài đa dạng kháng nguyên, nhiều virus có khả năng tái nhiễm đường hô hấp trên do immunoglobulin A niêm mạc tạo bởi nhiễm trước đó có đời sống ngắn, và thời gian ủ bệnh ngắn của các virus này cho phép hình thành nhiễm khuẩn trước khi đáp ứng miễn dịch nhớ. Mặc dù tái nhiễm không ngăn được hoàn toàn bởi đáp ứng miễn dịch thích nghi với những virus này, nhưng mức độ nặng của bệnh được điều hòa bởi miễn dịch tồn tại trước đó [3].

• Các triệu chứng của cảm lạnh phần lớn do đáp ứng miễn dịch bẩm sinh với nhiễm trùng hơn là tổn thương virus trực tiếp với đường hô hấp. Sau khi kết dính trên niêm mạc mũi hay kết mạc, virus gắn với các thụ thể trên các tế bào biểu mô vùng mũi họng và xâm nhập vào tế bào. Trong nhiễm rhinovirus, sự nhân lên virus diễn ra chỉ trong một số ít tế bào biểu mô mũi. Các tế bào bị nhiễm giải phóng các cytokines, gồm interleukin (IL)-8, thu hút các bạch cầu đa nhân (PMNs). Một lượng lớn bạch cầu đa nhân (tăng gấp 100 lần) tích tụ trong chất tiết niêm mạc và sự thanh thải của nhung mao bị chậm lại [1].

• Các triệu chứng thường xuất hiện 1-2 ngày sau khi nhiễm virus, trùng với dòng đi vào của các bạch cầu đa nhân ở biểu mô và dưới niêm mạc mũi. Mức độ nặng của triệu chứng liên quan với nồng độ IL-8. Sự thay đổi đặc tính của chất xuất tiết mũi từ trong qua vàng/trắng hoặc xanh liên qua với sự tăng bạch cầu đa nhân, nhưng không liên quan với sự tăng cấy vi khuẩn dương tính. Chất tiết đổi màu có thể biểu thị sự hiện diện bạch cầu đa nhân (vàng hoặc trắng) hoặc hoạt tính men bạch cầu đa nhân (màu xanh) [1].

• Nhiễm rhinovirus làm tăng tính thấm thành mạch dưới niêm mạc mũi, làm giải phóng albumin và kinins (bradykinin), góp phần vào các triệu chứng của cảm lạnh. Bradykinin gây viêm mũi và đau họng. Nồng độ histamine không tăng trong nhiễm rhinovirus thực nghiệm. Nghiên cứu mô học ở thanh niên với cảm lạnh tự nhiên và bằng thực nghiệm cho thấy biểu mô niêm mạc mũi vẫn nguyên vẹn, mặc dù có dòng xâm nhập của bạch cầu đa nhân vào lớp biểu mô và dưới niêm mạc. In vitro, rhinoviruses, coronaviruses và RSV không gây phá hủy cấu trúc của lớp biểu mô; tuy nhiên, adenoviruses và influenza A gây phá hủy các tế bào biểu mô [1],[3].

5. Lâm sàng

• Tần suất và thời gian: Trẻ nhỏ dưới 6 tuổi có trung bình 6-8 đợt cảm lạnh mỗi năm, với thời gian triệu chứng kéo dài khoảng 1 tuần, mặc dù 10% kéo dài 2 tuần [3]. Trẻ lớn và người lớn trung bình 2-4 đợt mỗi năm, với thời gian 5-7 ngày. Triệu chứng kéo dài ở những người hút thuốc lá [1].

• Khởi phát triệu chứng cảm lạnh điển hình xảy ra 1-3 ngày sau nhiễm virus. Triệu chứng đầu tiên được ghi nhận là đau hay rát họng, sau nghẹt mũi và sổ mũi. Đau họng thường hết nhanh, vào ngày thứ 2 và thứ 3 của bệnh, và các triệu chứng mũi nổi trội [3].

• Các triệu chứng thay đổi khác nhau giữa các bệnh nhân, một phần do tuổi, và một phần do tác nhân virus, mặc dù giới hạn thay đổi rộng và biểu hiện trùng lắp của các virus gây cảm lạnh khác nhau nên không thể xác định virus gây bệnh đặc hiệu nếu không có xét nhiệm cận lâm sàng [1].

– Ở trẻ nhũ nhi: sốt và sổ mũi là các biểu hiện thường gặp. Ngoài ra, còn có quấy khóc, bú kém, và khó ngủ.

– Trẻ tuổi học đường: nghẹt mũi, sổ mũi và ho là các triệu chứng nổi bật. Một nghiên cứu tiến cứu trên 81 trẻ tuổi học đường (5-12 tuổi), bố mẹ ghi lại các dấu hiệu và triệu chứng trong 10 ngày đầu của bệnh. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm ho, hắt hơi, hơi sốt (như có vẻ bệnh, đỏ mặt, sờ ấm), nghẹt mũi, sổ mũi và đau đầu; đau họng và khàn tiếng không được đánh giá. Rhinovirus RNA được phát hiện ở 46% các đợt [1].

• Sốt: Sốt có thể là biểu hiện nổi trội của cảm lạnh trong giai đoạn sớm ở trẻ em, nhưng không thường gặp ở trẻ lớn và người lớn. Sốt khởi phát mới hay sốt tái phát (nếu có một lần lúc khởi phát bệnh) có thể là nhiễm vi khuẩn thứ phát (như viêm tai giữa cấp, viêm xoang, viêm phổi) [1].

• Các biểu hiện ở mũi: Nghẹt mũi, sổ mũi, và hắt hơi thường gặp ở trẻ em. Khám có thể thấy sung huyết và sưng nề niêm mạc mũi và sổ mũi. Sổ mũi lúc đầu có thể trong, nhưng thường biến màu (vàng hoặc xanh) sau vài ngày. Sự biến màu của nước mũi liên quan đến sự tăng số lượng hoặc hoạt tính men của bạch cầu đa nhân. Sự biến màu của nước mũi không ngụ ý bội nhiễm vi khuẩn hay viêm xoang vi khuẩn [1].

  • Gợi ý viêm xoang vi khuẩn khi sổ mũi kéo dài trên 10 ngày mà không cải thiện, triệu chứng nặng, hay xấu đi.

• Ho: Ho xảy ra hơn 2/3 trẻ cảm lạnh và và thường bắt đầu sau khởi phát các triệu chứng mũi. Ho là triệu chứng khó chịu nhất đối với người chăm sóc trẻ. Ho có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, đi học và chơi; nó có thể gây ảnh hưởng giấc ngủ của mọi người trong gia đình cũng như trong lớp. Ho có thể kéo dài 1-2 tuần sau khi hết các triệu chứng khác. Nên cân nhắc chẩn đoán khác nếu ho nặng hơn hoặc không cải thiện [1].

• Các triệu chứng khác: Bao gồm đau họng (một biểu hiện sớm), khàn tiếng, đau đầu, quấy, khó ngủ, bú/ăn uống kém, sưng hạch cổ, và viêm kết mạc. Nôn ói và tiêu chảy không thường gặp [1].

• Thăm khám cảm lạnh giới hạn ở đường hô hấp trên. Thường thấy tăng xuất tiết mũi, thay đổi màu hay giữ nguyên chất tiết trong đợt bệnh và không phải là chỉ điểm của viêm xoang hay bội nhiễm vi khuẩn mà là tích tụ bạch cầu đa nhân. Khám khoang mũi có thể thấy cuống mũi sưng nề, sung huyết, mặc dù dấu hiệu này không đặc hiệu và giá trị chẩn đoán hạn chế. Khám bất thường áp lực tai giữa trong đợt cảm. Khám có thể thấy hạch cổ phía trước và viêm kết mạc [3].

• Cận lâm sàng

– Các xét nghiệm thường qui không giúp ích trong chẩn đoán và điều trị cảm lạnh. Phết mũi tìm eosinophils có thể có ích nếu nghi ngờ viêm mũi dị ứng. Bất thường X quang tự giới hạn của các xoang cạnh mũi thường gặp trong cảm không biến chứng; và không có chỉ định chụp ở hầu hết trẻ viêm mũi đơn thuần [3].
– Các tác nhân virus liên quan cảm lạnh có thể phát hiện bằng polymerase chain reaction (PCR), nuôi cấy, phát hiện kháng nguyên, hoặc phương pháp huyết thanh. Các xét nghiệm này không chỉ định ở bệnh nhân cảm do chẩn đoán căn nguyên đặc hiệu chỉ có ích khi điều trị bằng kháng virus, như influenza. Cấy vi khuẩn hay phát hiện kháng nguyên chỉ có ích khi nghi ngờ group A streptococcus hoặc Bordetella pertussis. Phân lập các tác nhân vi khuẩn khác từ bệnh phẩm mũi họng không phải là chỉ điểm của nhiễm trùng mũi và không phải là yếu tố tiên đoán đặc hiệu tác nhân gây bệnh trong viêm xoang [3].

6. Biến chứng

• Bất thường tai giữa: Bất thường tai giữa thường gặp trong một đợt cảm lạnh không biến chứng. Một nghiên cứu mô tả trên 86 trẻ (2-12 tuổi) bị cảm lạnh, 2/3 trẻ có bất thường áp lực tai giữa (đánh giá bằng tympanometry) ở một số thời điểm trong 2 tuần sau khởi bệnh, thường gặp nhất trong tuần đầu. Chúng chuyển từ tai này qua tai kia và chỉ có từng cơn trong đợt cảm lạnh [1]. Bất thường áp lực tai giữa có thể dẫn đến tiến triển viêm tai giữa cấp. Tiến triển viêm tai giữa cấp không bị ảnh hưởng bởi điều trị phối hợp chống sung huyết – kháng histamine. Nguyên nhân của bất thường áp lực tai giữa trong cảm lạnh vẫn chưa rõ. Viêm mũi họng cấp có thể gây rối loạn chức năng của vòi Eustach và bất thường áp lực tai giữa, hay bất thường áp lực tai giữa do nhiễm virus niêm mạc của tai giữa và/hoặc vòi Eustach [1].

• Viêm tai giữa cấp: Đa số trẻ cảm lạnh có bất thường áp lực tai giữa ở một số thời điểm trong đợt bệnh. Bất thường áp lực tai giữa có thể dẫn đến viêm tai giữa cấp. Nguy cơ viêm tai giữa cấp thứ phát thường gặp nhất ở trẻ 6-11 tháng. Khoảng 1/3 đến 1/2 cảm lạnh ở trẻ nhỏ có biến chứng viêm tai giữa cấp, được xác định bởi các triệu chứng khởi phát cấp tính, viêm màng nhĩ, và dịch trong tai giữa. Tuy nhiên, viêm tai giữa vi khuẩn hay mủ được xác định khi màng nhĩ căng phồng với mủ phía sau hay chảy mủ tai từ lỗ thủng màng nhĩ, xảy ra 5-19% cảm lạnh ở trẻ em. Một nghiên cứu tiến cứu, tần suất viêm tai giữa tăng ở trẻ có dịch tai giữa trước khi cảm lạnh. Chỉ điểm viêm tai giữa có thể là khởi phát sốt mới và đau tai sau vài ngày khởi phát triệu chứng cảm lạnh [1].

• Nặng thêm hen phế quản: Nhiễm trùng hô hấp trên do virus thường liên quan với khò khè ở trẻ nhạy cảm và liên quan đến ít nhất 50% nặng thêm hen ở trẻ em [1].

• Viêm xoang: Viêm xoang tự khỏi là một phần của sinh lý bệnh của cảm lạnh, nhưng có 0,5-2% nhiễm khuẩn hô hấp trên ở người lớn, và 5-13% ở trẻ em, có biến chứng viêm xoang nhiễm trùng cấp. Khó phân biệt các triệu chứng cảm lạnh với viêm xoang nhiễm trùng. Không có bằng chứng cho thấy điều trị triệu chứng cảm lạnh làm thay đổi tần suất tiến triển của viêm xoang nhiễm trùng [3]. 
Nhiễm trùng thứ phát các xoang cạnh mũi được chỉ điểm bởi [1],[3]:

– Các triệu chứng sổ mũi hay ho ngày kéo dài mà không cải thiện ít nhất 10-14 ngày, hoặc

– Các dấu hiệu của tổn thương xoang nặng hơn (nhiệt độ ≥39°C, vẻ bệnh nặng, chảy mũi đục 3-4 ngày, đau mặt, hay sưng mặt), hoặc

– Các triệu chứng xấu đi (nặng thêm sổ mũi hay ho, sốt mới khởi phát, hay sốt tái phát).

• Bệnh đường hô hấp dưới: Viêm phổi nhiễm trùng là một biến chứng không thường gặp của cảm lạnh. Chỉ điểm có thể là sốt mới khởi phát sau vài ngày đầu của triệu chứng cảm lạnh. Ho kéo dài mà không có sốt mới có thể báo hiệu nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới do virus [1].

• Các biến chứng khác: Các biến chứng khác của cảm lạnh ở trẻ em bao gồm chảy máu cam, viêm kết mạc, và viêm họng [1].

7. Chẩn đoán

Chẩn đoán cảm lạnh bằng lâm sàng, dựa vào bệnh sử và thăm khám. Xét nghiệm cận lâm sàng không giúp ích chẩn đoán [1]. Nhiệm vụ quan trọng nhất của bác sĩ là loại trừ các tình trạng tiềm tàng nặng và có thể điều trị. Chẩn đoán phân biệt cảm lạnh gồm các rối loạn không nhiễm khuẩn cũng như nhiễm khuẩn hô hấp trên khác [3].

• Viêm mũi dị ứng, theo mùa hay vận mạch; viêm mũi do thuốc: Đặc điểm bệnh sử thường giúp phân biệt các rối loạn này với cảm lạnh (tiền sử trước đây, kiểu khởi phát, phơi nhiễm,…[1].

• Viêm xoang nhiễm trùng cấp: Bệnh nhân có thể than đau mặt; phân biệt với cảm lạnh bởi kéo dài, mức độ nặng tăng lên, hay xấu đi của các triệu chứng [1].

• Dị vật: Đặc điểm lâm sàng gợi ý dị vật mũi gồm chảy mủ, mùi hôi, một bên, hay sổ mũi có nhuốm máu; dị vật thường nhìn thấy khi soi mũi phía trước sau khi súc rửa chất tiết mủ [1].

• Hít dị vật: Đặc điểm lâm sàng gợi ý hít dị vật gồm khởi phát ho cấp tính, ngạt thở, khò khè đơn âm [1].

• Ho gà: Ho gà cổ điển bắt đầu với ho nhẹ và sổ mũi (giai đoạn viêm long – catarrhal phase); tuy nhiên ho tăng dần và trở nên dữ dội (paroxysmal) [1].

• Bất thường cấu trúc mũi hoặc xoang có thể dẫn đến nghẹt mũi hay tắc mũi; các tổn thương này thường không liên quan với các biểu hiện khác của cảm lạnh (như ho, đau họng, sốt) [1].

• Cúm (Influenza): Mặc dù virus cúm có thể gây cảm lạnh, nhưng nó thương gây bệnh nặng hơn; khởi phát đột ngột sốt cao (thường >39°C), đau đầu, đau cơ, và khó chịu; ngoài ho, đau họng, và viêm mũi [1].

• Viêm họng và amygdales nhiễm trùng: Viêm họng – amygdales do liên cầu nhóm A thường không kèm với các triệu chứng mũi, mà đây là biểu hiện nổi bật của cảm lạnh ở trẻ em [1].

8. Điều trị

Cảm lạnh thường nhẹ và tự khỏi. Điều trị chủ yếu là phòng ngừa và hỗ trợ. Kháng sinh không có vai trò nếu không có bội nhiễm vi khuẩn. Liệu pháp kháng virus không có đối với hầu hết virus gây cảm lạnh. Thuốc ho và cảm không cần đơn thuốc không chứng minh hiệu quả và tiềm tàng tác dụng phụ. Không có bằng chứng chỉ định điều trị kẽm, Echinacea purpurea (họ cúc), hoặc vitamin C có lợi trong điều trị cảm lạnh ở trẻ em [2].

8.1. Hướng dẫn dự phòng (Anticipatory guidance):

Đây là điều cốt lõi quan trọng trong xử trí cảm lạnh ở trẻ em và được Hiệp hội Nhi khoa Hoa kỳ (AAP), United Kingdom’s National Institute for Health and Clinical Excellence, và Hội lồng ngực Anh (BTS) khuyến cáo. Bao gồm giải thích về diễn tiến đợt bệnh và lý do quay lại đánh giá, biện pháp hỗ trợ, nguy cơ và lợi ích của liệu pháp điều trị triệu chứng, và ngăn ngừa lây lan [2].

• Diễn tiến đợt bệnh: Ở trẻ nhỏ và nhũ nhi, các triệu chứng cảm lạnh cao nhất thường vào ngày 2-3 của bệnh và sau đó cải thiện dần 10-14 ngày (Hình 1). Một số ít trẻ, ho có thể kéo dài, nhưng tự hết trong 3-4 tuần. Ở trẻ lớn và thanh niên, các triệu chứng thường hết trong 5-7 ngày (lâu hơn ở những người có bệnh lý phổi nền hoặc hút thuốc lá) [2].

– Kháng sinh không làm thay đổi diễn tiến đợt bệnh và không ngăn ngừa biến chứng thứ phát.

– Đánh giá lại nếu triệu chứng xấu hơn (như khó thở hay khó nuốt) hoặc vượt quá thời gian mong đợi. Các triệu chứng kéo dài hay nặng hơn có thể chỉ điểm tiến triển biến chứng hoặc cần cân nhắc chẩn đoán khác ngoài cảm lạnh.

• Điều trị hỗ trợ: Điều trị hỗ trợ gồm duy trì đủ dịch nhập; ăn uống lỏng ấm (như súp gà, trà); súc rửa mũi và tư thế thẳng đứng (đối với nhũ nhi); phun hay xịt mũi bằng nước muối sinh lý (đối với trẻ lớn); và dùng bình phun ẩm (humidifiers/vaporizers). Mặc dù đa số các can thiệp này chưa được nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chúng tương đối không tốn kém và không có hại [2].

– Duy trì đủ lượng nước giúp làm loãng chất tiết và làm dịu niêm mạc hô hấp [2].

– Ăn uống lỏng ấm: Ăn uống lỏng ấm (như nước cam, trà, súp gà) có tể có tác động êm dịu lên niêm mạc hô hấp, làm tăng lưu thông chất nhầy mũi (có lẽ qua trung gian hít hơi nước), và làm lỏng chất tiết hô hấp, vì vậy tăng cường thải loại chất tiết/đờm. Ăn uống lỏng ấm phù hợp với tuổi của trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ [2].

– Rửa mũi bằng nước muối sinh lý: Xịt rửa bằng nước muối sinh lý vào khoang mũi để loại bỏ tạm thời chất tiết mũi gây khó chịu. Ở trẻ nhũ nhi, nhỏ nước muối và mũi và dùng dụng cụ hút. Ở trẻ lớn, có thể xịt hay phun sương mũi [2].

– Làm ẩm không khí: Khuyến cáo dùng máy phun ẩm để làm ẩm không khí để làm loãng chất tiết mũi mặc dù điều trị này chưa được nghiên cứu đầy đủ. Điều quan trọng phải tư vấn người chăm sóc làm sạch dụng bình phun ẩm sau khi dùng theo hướng dẫn sử dụng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn hoặc tổn thương hít. Không khuyến cao hít hơi nóng hay máy làm ẩm nóng như là một điều trị nghẹt mũi/sổ mũi ở trẻ cảm lạnh. Các nghiên cứu đánh giá tác động của hít khí ẩm nóng lên các triệu chứng của cảm lạnh còn trái ngược. Mặc dù giả thuyết rằng hít khí nóng sẽ làm giảm sự nhân lên của virus (do rhinoviruses nhân lên tốt nhất ở 33-34oC), hít hơi nóng không liên quan với giảm lây lan hay lượng virus. Hít hơi nóng ở trẻ em có thể gây bỏng. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo không dùng hơi nóng cũng như lạnh trong điều trị cảm lạnh trẻ em [2].

• Các thuốc không cần toa (Over-the-counter medications, OTC): Nhiều thuốc OTC được bán trên thị trường để làm giảm triệu chứng cảm lạnh ở trẻ em, gồm thuốc khác histamine, chống sung huyết, chống ho, long đờm, tiêu nhầy, hạ sốt, và kết hợp các loại thuốc này [2].

– Giải thích về các nguy cơ và lợi ích của thuốc OTC là một phần quan trọng của hướng dẫn dự phòng đối với trẻ cảm lạnh. Các thử nghiệm ngẫu nhiên, systematic reviews, nghiên cứu gộp cho thấy thuốc OTC không chứng tỏ tốt hơn placebo ở trẻ em và có thể có tác dụng phụ. Một số khuyến cáo không dùng thuốc OTC cho trẻ cảm lạnh dưới 6 tuổi [2].

– Thuốc ho và cảm OTC có liên quan đến tác hại quá liều ở trẻ dưới 2 tuổi. Thuốc OTC có tiềm tàng làm tăng độc tính ở trẻ do chuyển hóa, sự thanh thải, và tác dụng phụ có thể thay đổi theo tuổi. Khuyến cáo liều an toàn chưa thiết lập ở trẻ em [2].

8.2. Liệu pháp kháng sinh:

Không có vai trò của kháng sinh trong điều trị cảm lạnh. Kháng sinh không ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn thứ phát, có thể gây tác dụng phụ và góp phần làm tăng kháng kháng sinh. Dùng kháng sinh trong các nhiễm vi khuẩn thứ phát được chẩn đoán rõ ràng, gồm viêm tai giữa, viêm xoang, và viêm phổi [2].

8.3. Liệu pháp kháng virus:

Liệu pháp kháng virus không có đối với các nguyên nhân cảm lạnh ngoài trừ influenza virus [2]. Ribavirin được chứng minh trong điều trị nhiễm RSV nặng, không có vai trò trong điều trị cảm lạnh. Chất ức chế neuraminidase oseltamivir và zanamivir có tác động khiêm tốn lên thời gian của các triệu chứng liên quan đến nhiễm virus influenza. Oseltamivir cũng làm giảm tần suất viêm tai giữa liên quan influenza. Khó phân biệt influenza với các tác nhân cảm lạnh khác và cần thiết bắt đầu liệu trình trong giai đoạn đầu của bệnh (trong vòng 48 giờ xuất hiện triệu chứng) là hạn chế trong thực hành để dùng thuốc này đối với nhiễm khuẩn hô hấp trên nhẹ [3].

8.4. Điều trị triệu chứng:

Điều trị triệu chứng là chủ yếu trong cảm lạnh ở trẻ em. Tuy nhiên, điều trị triệu chứng liên quan đến nguy cơ và lợi ích, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Không cần điều trị nếu chúng không gây khó chịu cho trẻ hoặc mọi người trong gia đình (như gián đoạn giấc ngủ, ăn uống, gây lo lắng) [2].

• Sốt: Hạ sốt bằng acetaminophen (đối với trẻ trên 3 tháng tuổi) hoặc ibuprofen (đối với trẻ trên 3 tháng tuổi) [2].

• Nghẹt mũi và sổ mũi: Tắc mũi có thể ảnh hưởng đến ăn uống, và là triệu chứng khó chịu nhất ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Nghẹt mũi và sổ mũi ở trẻ dưới 12 tuổi nên điều trị bằng súc rửa mũi, nhỏ giọt hay xịt mũi bằng nước muối sinh lý, uống đủ nước, và/hoặc bình làm ẩm, hơn là thuốc OTC. Điều trị hỗ trợ không cho thấy hiệu quả trên thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chúng an toàn và không tốn kém [2].

– Ipratropium: Sổ mũi khó chịu ở trẻ trên 5 tuổi không đáp ứng với điều trị hỗ trợ có thể điều trị bằng ipratropium bromide, một chất anticholinergic tại chỗ. Thuốc này có tác dụng như kháng histamine nhưng không gây buồn ngủ. Tác dụng phụ thường gặp nhất của ipratropium là kích thích mũi và chảy máu mũi [3]. Liều ipratropium nasal spray 0,06%, xịt 2 nhát mỗi mũi x 3 lần/ngày trong 4 ngày [2].

– Chống sung huyết: Thuốc adrenergic chống sung huyết làm co thắt mạch của niêm mạc mũi, dưới dạng uống và tại chỗ, được dùng ở trẻ lớn và người lớn. Các thuốc adrenergic tại chỗ có hiệu quả như xylometazoline, oxymetazoline, hay phenylephrine có ở dạng nhỏ giọt hay dạng xịt. Công thức giảm nồng độ của các thuốc này để dùng cho trẻ nhỏ mặc dù không khuyến cáo sử dụng ở trẻ dưới 6 tuổi. Tác dụng phụ gồm chảy máu mũi và khô niêm mạc mũi. Sự hấp thu toàn thân của các imidazolines (oxymetazoline, xylometazoline) hiếm khi liên quan đến tác dụng phụ. Nên tránh dùng kéo dài các adrenergic tại chỗ để tránh tiến triển rhinitis medicamentosa, một hiệu ứng dội ngược gây cảm giác tắc mũi khi ngưng thuốc. Dùng adrenergic uống (như pseudoephedrine và phenylephrine) kém hiệu quả hơn dùng tại chỗ, và đôi khi liên quan tác dụng toàn thân như kích thích hệ thần kinh trung ương, tim đập nhanh, tăng huyết áp tâm thu, và hồi hộp [3].

Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên ở người lớn cho thấy thuốc chống sung huyết dạng uống và tại chỗ làm giảm sung huyết mũi và tăng thông thoáng mũi, nhưng không có nghiên cứu cho thấy hiệu quả ở trẻ dưới 12 tuổi. Thiếu chứng cứ lợi ích và nguy cơ tác dụng phụ nên khuyến cáo không dùng thuốc chống sung huyết ở trẻ dưới 6 tuổi [2].

– Kháng histamine và phối hợp kháng histamine/chống sung huyết: Các thuốc kháng histamine thế hệ đầu (như diphenhydramine, chlorpheniramine, hydroxyzine, brompheniramine) có thể làm giảm sổ mũi 25-30%. Tác dụng kháng histamine lên sổ mũi có lẽ liên quan với anticholinergic hơn là đặc tính antihistaminic của các thuốc này, và do đó các thuốc kháng histamine thế hệ 2 hay “nonsedating” không có tác dụng lên các triệu chứng cảm lạnh [3]. Tác dụng phụ gồm buồn ngủ, kích thích, ức chế hô hấp, và ảo giác. Không khuyến cáo sử dụng kháng histamine và phối hợp kháng histamine/chống sung huyết ở trẻ dưới 6 tuổi. Tác dụng kháng cholinergic của kháng histamine thế hệ 1 có thể làm giảm xuất tiết liên quan cảm lạnh. Tuy nhiên, các thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy không có hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp trên [2].

– Các chất thơm (như menthol, camphor, eucalyptus oil) có thể cải thiện cảm giác nghẹt mũi nhưng không ảnh hưởng trên spirometry, và không khuyến cáo sử dụng điều trị cảm lạnh ở trẻ em [2],[3]. Các chất thơm (như menthol) có thể cải thiện cảm giác nghẹt mũi nhưng không ảnh hưởng trên spirometry.

– Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý có thể cải thiện các triệu chứng mũi và có thể dùng cho các lứa tuổi [3].

• Ho: Ho có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ, học tập, và chơi; nó cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ cảu các thành viên trong gia đình và lớp học. Người nhà thường tìm đến sự can thiệp để giảm ho. Tuy nhiên, ho là đáp ứng sinh lý với kích thích đường thở và có chức năng làm sạch chất tiết khỏi đường hô hấp. Ức chế ho có thể dẫn đến ứ đọng chất tiết và tiềm ẩn nguy hại tắc nghẽn đường thở. Cân nhắc chẩn đoán khác (như hen phế quản, ho gà…) khi ho kéo dài hoặc ho nặng (kéo dài trên 2 tuần mà không cải thiện hoặc nặng hơn) [2]. Thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy thuốc OTC hay thuốc kê đơn không chứng minh hiệu quả trong điều trị ho ở trẻ cảm lạnh. Do đó, không khuyến cáo sử dụng thuốc ho ở trẻ cảm lạnh. Có thể giảm kích thích đường thở bằng uống đủ nước, ăn uống ấm (trà, súp gà), mật ong (ở trẻ trên 1 tuổi), kẹo ngậm hay kẹo cứng (ở trẻ không có nguy có hít sặc) [2].

– Thuốc chống ho (Antitussives): Thuốc ức chế ho thường không cần ở bệnh nhân cảm lạnh [3]. Thuốc chống ho (dextromethorphan, codeine) tác động lên trung tâm ho để ức chế phản xạ ho. Dextromethorphan có ở thuốc không kê đơn, nó không có tính giảm đau hay gây nghiện, nhưng do tác động sảng khoái của nó được dùng bất hợp pháp như một thuốc giải trí. Cả codeine và dextromethorphan đều có nguy cơ ngộ độc gồm ức chế hệ hô hấp và hệ thần kinh trung ương. Không khuyến cáo sử dụng thuốc chống ho để điều trị ho ở trẻ cảm lạnh [2].

– Kháng histamine: Thuốc kháng histamine (như diphenhydramine, chlorpheniramine, hydroxyzine, brompheniramine) không khuyến cáo sử dụng để điều trị ho [2]. Ho ở một số bệnh nhân có lẽ do kích thích đường hô hấp trên liên quan với chảy mũi sau (postnasal drip). Ho ở những bệnh nhân này là nổi bật nhất trong thời gian của triệu chứng mũi, và điều trị bằng kháng histamine thế hệ 1 có thể có lợi [3].

– Thuốc long đờm và tiêu nhầy: Thuốc long đờm (như guaifenesin) và tiêu nhầy (acetylcysteine, bromhexine, letosteine) làm tăng sản xuất chất nhầy và làm loãng chất tiết hô hấp, do đó, làm chất tiết dễ dàng tống xuất. Guaifenesin đơn thuần tương đối an toàn, chỉ gây kích thích dạ dày – ruột nhẹ, nhưng trên OTC nó thường kết hợp với các thành phần khác. Tác dụng phụ của các thuốc tiêu nhầy gồm co thắt phế quản, rối loạn tiêu hóa, và sốt [2].

– Kẹo ngậm (Lozenges): Kẹo ngậm ho có hiệu quả tạm thời và không có hại ở trẻ em không có nguy cơ hít sặc (trẻ trên 6 tuổi) [3]. Tuy nhiên, không có bằng chứng trên thử nghiệm đối chứng cho thấy kẹo ngậm ho có hiệu quả giảm ho. AAP khuyến cáo dùng kẹo ngậm để tránh kích thích họng cho trẻ trên 6 tuổi [2].

– Mật ong: Mật ong (5-10 mL ở trẻ trên 1 tuổi) có tác dụng vừa phải làm giảm ho đêm và không có hại ở trẻ trên 1 tuổi. Tránh dùng mật ong cho trẻ dưới 1 tuổi do nguy cơ ngộ độc botulium [2],[3].

– Thuốc dãn phế quản: Không sử dụng thuốc dãn phế quản để điều trị ho ở trẻ không có hen bị cảm lạnh. Tuy nhiên, nhưng trẻ hen phế quản tiến triển từ cảm lạnh nên dùng thuốc giải cứu dãn phế quản như một chỉ định theo phác đồ hen phế quản [2]. Ở một số bệnh nhân, ho có thẻ do bệnh lý kích thích đường thở do virus (virus-induced reactive airways disease). Những bệnh nhân này có thể ho kéo dài nhiều ngày đến nhiều tuần sau khi đợt bệnh cấp tính và thuốc dãn phế quản hay liệu pháp khác có thể có ích [3].

– Kết hợp camphor, menthol, và dầu eucalyptus có thể làm giảm ho đêm, nhưng nghiên cứu hiệu quả của chúng còn hạn chế [3].

• Đau họng: Đau họng liên quan cảm thường không nặng, nhưng đôi khi chỉ định điều trị bằng giảm đau nhẹ, đặc biệt có kèm đau cơ hoặc đau đầu. Việc dùng acetaminophen trong nhiễm rhinovirus liên quan đến ức chế đáp ứng kháng thể trung hòa, nhưng nghiên cứu này không có ý nghĩa lâm sàng. Aspirin không nên dùng cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp do nguy cơ hội chứng Rye ở trẻ nhiễm influenza. Thuốc kháng viêm nonsteroid có tác dụng giảm triệu chứng khó chịu do cảm lạnh, nhưng không có bằng chứng rõ ràng tác dụng của nó lên triệu chứng hô hấp, do đó nên cân nhắc lợi ích và tác hại khi dùng cho bệnh nhân cảm lạnh [3].

• Bất thường tai giữa: Bất thường áp lực tai giữa thường gặp trong cảm lạnh, và có thể dẫn đến tiến triển viêm tai giữa cấp. Tuy nhiên, một nghiên cứu hồi cứu cắt ngang, điều trị bằng chống sung huyết – kháng histamine (brompheniramine và phenylpropanolamine) không ngăn ngừa tiến triển của viêm tai giữa [2].

8.5. Các liệu pháp khác:

Các liệu pháp khác được khuyến nghị điều trị trong cảm lạnh gồm kẽm, cúc, và vitamine C [2].

• Kẽm (zinc): Hiệu quả của kẽm trong việc giảm thời gian và mức độ nặng của triệu trứng cảm ở trẻ em nếu cho sớm trong vòng 24 giờ khởi phát triệu chứng. Chức năng của rhinovirus 3C protease, một enzyme thiết yếu đối với sự nhân lên của rhinovirus, bị ức chế bởi kẽm, nhưng không có bằng chứng tác động kháng virus của kẽm in vivo. Tác động của kẽm lên triệu chứng không hằng định, một số nghiên cứu cho thấy tác động điều trị đáng kể (ở người lớn), trong khi một số nghiên cứu khác không thấy có lợi. Tác dụng phụ thường gặp và bao gồm giảm vị giác, mùi khó chịu và buồn nôn [3].

• Echinacea là thảo dược phổ biến điều trị trong cảm lạnh. Mặc dù chiết xuất echinacea có tác dụng sinh học, nhưng echinacea không hiệu quả trong điều trị cảm lạnh [3].

9. Phòng bệnh

Hầu hết trẻ em bị cảm lạnh không cần phải được cách ly nơi chăm sóc trẻ em hoặc trường học vì lây truyền có thể xảy ra trước khi đứa trẻ có triệu chứng. Nguy cơ lan truyền có thể giảm bằng các biện pháp phòng ngừa thông thường [2].

• Rửa tay: Biện pháp tốt nhất để ngăn ngừa lây nhiễm cảm lạnh là rửa tay thương xuyên và tránh chạm miệng, mũi và mắt người bệnh. Virus cảm lây truyền từ tay sang các vật trong môi trường hoặc sang người khác. Để tránh lây nhiễm vào tay, hướng dẫn trẻ bị cảm lạnh ho vào khăn giấy, khăn tay, hay cong tay vào khuỷu tay hơn là vào bàn tay [2].

• Tẩy uế: Khử trùng bề mặt môi trường bằng thuốc diệt virus như phenol/alcohol (Lysol) có thể giúp làm giảm sự lan truyền virus gây cảm lạnh. Dùng khăn giấy lau mũi có tẩm thuốc diệt virus cũng làm giảm lan truyền virus cảm [2].

• Tiêm chủng: Không có tiêm chủng để ngăn ngừa cảm lạnh. Tuy nhiên, có tiêm chủng một số virus gây hội chứng lâm sàng tương tự cảm lạnh. Khuyến cáo tiêm chủng cúm (influenza) hàng năm ở trẻ trên 6 tháng tuổi ngăn nhiễm cúm và biến chứng của nó. Khuyến cáo tiêm palivizumab hàng tháng (chế phẩm kháng thể đơn dòng) để ngăn nhiễm khuẩn hô hấp dưới do RSV ở trẻ nhũ nhi có nguy cơ cao, nhưng không ngăn nhiễm khuẩn hô hấp trên do virus này [2],[3].

• Kẽm: Tổng quan của 2 nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên ở 394 trẻ cho thấy dùng zinc sulfate tối thiểu 5 tháng làm giảm tỉ lệ tiến triển của cảm lạnh (incidence rate ratio 0.64, 95% CI 0.47-0.88), nghỉ học, và kê đơn kháng sinh. Nghiên cứu 1 dùng sirô zinc sulfate (15mg/ngày trong 7 tháng); nghiên cứu 2 dùng viên zinc sulfate (10mg/ngày trong 5 tháng). Tác dụng phụ gồm vị khó uống và nôn. Tuy nhiên, không khuyến cáo sử dụng zinc sulfate dự phòng lâu dài để phòng cảm lạnh ở trẻ em [2],[3].

• Sản phẩm thảo dược và vitamins: Các nghiên cứu gộp không thấy có bằng chứng Echinacea purpurea, Allium sativum (tỏi), hoặc vitamin C (≥200 mg/ngày) ngăn ngừa cảm lạnh ở trẻ em. Tuy nhiên, có một số bằng chứng gợi ý dự phòng vitamin C có thể rút ngắn thời gian bị cảm lạnh (14,2%; 95% CI 7,3-21%) [2]. Thiếu vitamine D có liên quan tới tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp do virus ở một số nghiên cứu, tuy nhiên, dự phòng vitamine D không làm giảm tỉ lệ hay mức độ nặng của cảm lạnh ở người lớn; thiếu các nghiên cứu ở trẻ em [3].

-Người dịch: Bs. Phạm Văn Phong-

Posted in Kiến thức y khoa by Y dược Tây Nguyên