Bệnh học phổi tắc nghẽn mãn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

PHẦN I: BỆNH HỌC PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

1. ĐỊNH NGHĨA

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) là một tình trạng bệnh lý được đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng dẫn khí tiến triển dần và không hồi phục hoàn toàn.BPTNMT bao gồm viêm phế quản mãn tính và khí phế thũng.

Viêm phế quản mãn tính là một trạng thái bệnh lý trong đó bệnh nhân ho khạc đàm kinh niên trong ít nhất 3 tháng và trong vòng 2 năm liên tiếp.

Khí phế thũng là sự giãn nở bất thường và vĩnh viễn của các khoảng không khí cuối cùng của các tiểu phế quản tận cùng, kèm theo sự phá hủy của thành vách, mà không có xơ hóa rõ ràng.

2.DỊCH TỄ

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

2.1. Tỉ lệ mắc bệnh:

Bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, tần suất mắc bệnh hiện rất cao ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, ở một số nước đang có xu hướng v à trở thành một vấn đề sức khỏe đáng quan tâm.
– Theo hội lồng ngực Mỹ 1995, người ta ước tính khoảng 14 triệu người Mỹ bị BPTNMT trong đó có khoảng 12,5 triệu viêm phế quản mãn và 1,65 triệu khí phế thũng.
Ở Pháp, có khoảng 2,5 triệu người mắc BPTNMT và 20% số này có suy hô hấp và thiếu oxy máu.
– Tỉ lệ BPTNMT trong dân số chiếm 4 – 6% ở nam và 1 – 3% ở phụ nữ, chủ yếu do sự khác biệt về thói quen hút thuốc lá.
– Ở Việt Nam , Nguyễn Đình Hường ghi nhận theo số liệu 1962 – 1970 của Viện Lao và Bệnh Phổi điều tra >100 000 người ở nhiều địa phương và ngành nghề khác nhau, tổ chức thành nhiều đợt. Viêm phế quản mãn gặp khoảng 3,5 % số người được khám ở nông thôn, 8 – 10% ở khu công nghiệp và 17% ở các nhà máy.

2.2. Tỉ lệ tử vong

– Bệnh có tỉ lệ tử vong cao ở nhiều quốc gia. Ở Mỹ năm 1991 có 855554 ca tử vong do BPTNMT, chiếm tỉ lệ 18,6/100000 người. Ở Anh, năm 1992, có khoảng 26033 ca tử vong do BPTNMT chiếm 6,4% các trường hợp ở nam và 3,9% ở nữ.Bệnh được xếp là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 ở Mỹ và đứng hàng thứ 5 ở Pháp. Tỉ lệ tử vong tăng gần 32,9% kể từ năm 1979 – 1991. Năm 1985,BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong chiếm 3,6% trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân và là yếu tố phối hợp gây tử vong chiếm 4,3% tổng số tử vong.

3. CƠ CHẾ

– BPTNMT được đặc trưng bởi hiện tượng viêm trong suốt đường dẫn khí và nhu mô phổi.Đại thực bào và lympho bào T , tế bào đa nhân trung tính tăng nhiều trong phổi.Các tế bào viêm bị hoạt hóa giải phóng ra nhiều chất trung gian gồm Leucotriene B4, Interleukin 8, và những chất khác có khả năng tồn tại cấu trúc của phổi.Tình trạng viêm nhiễm được gây ra do tiếp xúc với các chất độc chủ yếu là khói thuốc lá.

Hút thuốc lá gây bệnh PTNMT
Hút thuốc lá gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

4. NGUYÊN NHÂN

– Hút thuốc lá là nguyên nhân chính của bệnh, và tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ( 80 – 90% trường hợp mắc COPD có liên quan đến hút thuốc lá )

– Ô nhiễm không khí và ô nhiễm nghề nghiệp , hút thuốc lá thụ động.

– Thiếu hụt men Alpha 1 – Antitrypsin (AAT), là bệnh lý di truyền duy nhất dẫn đến BPTNMT. Bệnh gây ra do thiếu hụt nồng độ AAT trong huyết thanh.

– Tăng đáp ứng phế quản, tình trạng kinh tế xã hội, yếu tố nghề nghiệp là những yếu tố góp phần và nguy cơ BPTNMT.

5. LÂM SÀNG

5.1. Cơ năng

– Bệnh thường xuất hiện ở tuổi trên 40, bệnh nhân thường có hút thuốc lá, lượng hút trung bình 20 gói/năm với các biểu hiện:

  • Ho mãn tính, ho nhiều vào buổi sáng và mùa lạnh, ho không liên quan đến mức độ nặng nhẹ của bệnh.
  • Có đàm mãn tính: số lượng đàm < 60ml/ngày, đàm nhầy. Khi đàm màu vàng hoặc xanh do bội nhiễm trong các đợt cấp.
  • Khó thở mãn tính, khó thở liên tục và gia tăng khi gắng sức hoặc khi có đợt bùng phát của bệnh. Các bệnh nhân BPTNMT ở giai đoạn sớm có thể chưa biểu hiện khó thở liên tục. Khó thở có thể kèm theo khò khè hoặc không. Trong những trường hợp bệnh tiến triển nặng,người bệnh thường khó thở khi nằm vì vậy cần phân biệt với khó thở của suy tim sung huyết.
  • Triệu chứng của các đợt cấp của bệnh tái lại nhiều lần. Được gọi là đợt cấp khi bệnh nhân có biểu hiện xấu hơn tình trạng ổn định trước đó: tăng lượng đàm, đàm đổi màu thành đàm mủ, khó thở nhiều hơn, khò khè nhiều hơn, nặng ngực hoặc ứ đọng dịch.

5.2.Thực thể

Nguyên nhân gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
Nguyên nhân gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

– Ở giai đoạn sớm bệnh nhân có thể chưa biểu hiện các bất thường khi khám. Đôi khi các biến đổi chỉ mới được ghi nhận giảm chức năng hô hấpvới hội chứng nghẽn tắc hoặc thấy nhịp tim nhanh và thì thở ra kéo dài hơn bình thường.
– Ở giai đoạn muộn bệnh nhân thường đến khám khi có các dấu hiệu sau:

  • Lo lắng vật vã, vã mồ hôi, tím tái.
  • Mạch nhanh, huyết áp thường tăng, tiếng tim mờ
  • Thường thở nhanh nông, co kéo cơ hô hấp phụ: trong thì this vào: co cơ ức đòn chũm, cơ thang, liên sườn; Thì thở ra: cơ thẳng bụng, cơ chéo bụng ngoài… thì thở ra kéo dài.Dấu hiệu Hoover: bờ sườn hõm khi hít vào.
  • Lồng ngực căng phồng ứ khí (lồng ngực hình thùng), giảm di động, khe gian sườn giãn, tăng đường kính trước sau.
  • Rung thanh giảm, gõ vang, nghe rì rào phế nang giàm, ran rít ran ngáy lan tỏa hai phế trường.

* Hai bệnh cảnh lâm sàng thường gặp:

– Bệnh cảnh điển hình của viêm phế quản mãn: “ Blue boater ”
Bệnh nhân thấp, mập.Khó thở ít hoặc vừa, ho khạc nhiều đàm. Tím, phù chân, gan to tĩnh mạch cổ nổi, ran ẩm đáy phổi.

– Bệnh cảnh điển hính của khí phế thũng: “ Pink puffer ”
Bệnh nhân cao gầy.Khó thở và khò khè xuất hiện sớm và là triệu chứng nổi bật, đàm ít, môi hồng. Lồng ngực hình thùng rõ, căng phồng ứ khí.

* Diễn tiến: Bệnh diễn tiến nặng dần với các đợt bùng phát của bệnh tái đi tái lại. Trong các đợt bùng phát có thể có biến chứng đe dọa tính mạng :

  • Tràn khí màng phổi
  • Suy hô hấp cấp
  • Nếu đợt bùng phát gây nên bởi nhiễm trùng, bệnh nhân có thể có các biến chứng nhiễm trùng huyết.

Bệnh lâu dần sẽ có biến chứng mãn như:

  • Suy hô hấp mãn
  • Đa hồng cầu
  • Tâm phế mãn

6.Cận lâm sàng

6.1. X-quang lồng ngực

Hình ảnh khí phế thũng biểu hiện qua tăng sáng hai phế trường, khe liên sườn nằm ngang, giãn rộng. Bóng tim hình giọt nước, cơ hoành nằm ngang, mất chiều cao cơ hoành.

6.2. Lưu lượng đỉnh kế: (peak flow meter)

Cho phép đo lưu lượng đỉnh, sử dụng đơn giản tại nhà, giúp theo dõi mức độ tắc nghẽn. Lưu lượng đỉnh càng giảm chứng tỏ tắc nghẽn càng nặng.

6.3. Chức năng hô hấp :

BPTNMT có tắc nghẽn nhưng không hồi phục. Dùng máy phế dung ký đo chức năng hô hấp như trong hen, theo dõi FEV1 cho biết diễn tiến và tiên lượng của bệnh. Mức độ nặng nhẹ của tắc nghẽn có thể phân theo FEV1/VC < 70% có tắc nghẽn khi đó:

  • FEV1 80 – 90% tắc nghẽn nhẹ
  • FEV1 30 – 80% tắc nghẽn trung bình với 30 – 50% là trung bình nặng
  • FEV1 <30% tắc nghẽn nặng

6.4. Khí máu động mạch :

Cho phép đo kết quả của quá trình trao đổi khí Oxy và CO2, đánh giá độ nặng của bệnh.

  • PaO2: Áp suất riêng phần khí oxy trong máu động mạch ( bình thường 80 – 100mmHg).
  • SaO2 : Độ bão hòa oxy trong máu động mạch ( bình thường 80-100%)
  • PaCO2: Áp suất riêng phần khí CO2 trong máu động mạch (bình thường 45 mmHg)
  • pH = 7,35 – 7,45

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính thường gây ra cả suy hô hấp thiếu oxy và cả suy hô hấp tăng CO2:

  • Suy hô hấp thiếu oxy: PaO2 < 60mmHg hay SaO2 < 90%
  • Suy hô hấp tăng CO2: pH <7,35 và PaCO2 > 50 mmHg.

7. Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính :

– Ngưng hút thuốc lá là quan trọng nhất.
– Dùng thuốc giãn phế quản giúp cải thiện triệu chứng.
– Tập vật trị liệu giúp bệnh nhân thích nghi tốt hơn với cuộc sống.
– Tập thể dục để cải thiện chức năng tim mạch, luyện tập cơ hô hấp: tập thở mím môi và thở cơ hoành. Tập ho và khạc đàm có hiệu quả.
– Điều chỉnh suy dinh dưỡng và quá cân.
– Dùng kháng sinh thích hợp khi có dấu hiệu nhiễm trùng.
– Vai trò corticoide trong đợt bùng phát chưa được thừa nhận ở các bệnh nhân này.
– Các thuốc khác: thuốc tan đàm N-acetyl-cysteine, Bromhexin, Ambroxol.
– Thuốc lợi tiểu: được dùng khi có phù ngoại biên, dùng làm giảm áp lực động mạch phổi. Tuy nhiên khi dùng cần theo dõi điện giải đồ thường xuyên.
– Oxy liệu pháp là một biên pháp quan trọng trong điều trị BPTNMT. Thở oxy có kiểm soát được chỉ định trong điều trị các đợt cấp của bệnh.
– Tác dụng của oxy: Làm giảm bớt khó thở, cải thiện khả năng gắng sức. Giamr bớt áp lực động mạch phổi do thiếu oxy. Giảm bớt đa hồng cầu, gia tăng chất lượng cuộc sống. Oxy có thể được cung cấp qua sonde mũi,qua mặt nạ.

Related posts

Leave a Comment